Các hình thức kinh doanh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

22-09-2026 10:02:06

1. Các hình thức kinh doanh quốc tế hiện nay

    Kinh doanh quốc tế càng có nhiều thách thức bởi những chức năng cơ bản của quản trị: hoạch định tổ chức, điều khiển, kiểm soát càng trở nên khó khăn hơn khi thực hiện hoạt động kinh doanh ở nhiều thị trường khác nhau trên thế giới.

     Hoạch định dĩ nhiên có nhiều khó khăn nhưng càng khó khăn hơn đối với tổ chức, điều khiển kiểm soát. Ví dụ: cấu trúc của một tổ chức có thể hoạt động rất tốt ở một quốc gia nhưng có thể thất bại khi hoạt động ở quốc gia khác. Những kỹ thuật quản trị có thể đạt được năng suất làm việc cao ở Mỹ, nhưng có thể đạt thấp ở Nhật Bản, ở Anh..

     Quản trị còn được hiểu là ra quyết định, ở khía cạnh này chúng ta xem xét ở khả năng của ba quyết định cơ bản mà quản trị một công ty phải làm khi đối mặt với triển vọng toàn cầu hoá. Dĩ nhiên, quyết định đầu tiên là có thể thâm nhập vào thị trường quốc tế không? Kế tiếp là nhà quản trị phải quyết định mức độ công ty xâm nhập vào thị trường quốc tế và cấu trúc tổ chức để đáp ứng tốt nhất với những nhu cầu.

 

 

Quyết định thâm nhập quốc tế

 


Các dạng sở hữu thâm nhập

-       Nhà xuất khẩu là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm ở một quốc gia và sau đó đưa đi phân phối và bán những sản phẩm đó ở những quốc gia khác.

-       Nhà nhập khẩu là doanh nghiệp mua những sản phẩm đó ở thị trường nước ngoài và sau đó nhập khẩu chúng để bán lại ở thị trường trong nước.

       Hình thức thâm nhập thị trường quốc tế này là các rất tốt để học hỏi những điểm mạnh của kinh doanh thị trường thế giới. Nhiều hãng lớn đã bắt đầu những hoạt động quốc tế từ những nhà xuất khẩu như: IBM, Coca cola.. đã xuất khẩu đến thị trường châu Âu trong nhiều năm trước khi xây dựng những nhà máy sản xuất ở đó.

 * Ưu điểm của xuất khẩu:  

* Nhược điểm của xuất khẩu. 

 b. Bản quyền.

      Những công ty đang tìm cách xâm nhập một cách chắc chắn hơn vào kinh doanh quốc tế có thể chọn lựa bản quyền: các hãng cho những cá nhân hoặc những doanh nghiệp ở nước ngoài được độc quyền được chế tạo hoặc bán những sản phẩm của họ ở thị trường đó. Ngược lại, nhà xuất khẩu nhận được phí và thêm khoản thu được gọi là sự trung thành. Sự trung thành thường được tính như là phần trăm của việc bán bản quyền.

 * Ưu điểm: 

 * Nhược điểm: 

 c. Đại lý độc quyền:

      Là những cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, người đồng ý làm đại diện quyền lợi của nhà xuất khẩu ở những thị trường nước ngoài. Đại lý độc uyền thường hành động như là những người đại diện bán hàng họ bán những sản phẩm của nhà xuất khẩu, lưa chọn phương thức thanh toán, thực hiện những biện pháp thoả mãn khách hàng. Họ thường đại diện cùng lúc cho nhiều công ty và không chuyên môn hoá cho một sản phẩm hay thị trường bất kỳ nào. Ví dụ như levi Strauss sử dụng các đại lý để tiêu thụ những sản phẩm quần áo ở nhiều quốc gia ở châu phi, châu á, nam Mỹ.

 * Ưu điểm: 

 * Nhược điểm: 

 d. Văn phòng đại diện - chi nhánh

      Thay vì phát triển mối quan hệ với công ty nước ngoài hoặc đại lý độc quyền, một hãng có thể đơn giản cử một số nhà quản trị của mình đến các văn phòng chi nhánh ở nước ngoài.Văn phòng chi nhánh là các văn phòng ở nước ngoài do các công ty quốc tế hoặc công ty đa quốc gia thiết lập. Thực tế, một công ty kiểm soát trực tiếp nhiều nhà quản trị chi nhánh hơn là các đại lý hoặc là các bản quyền. Các văn phòng chi nhánh cũng cho công ty có được xuất hiện rõ ràng hơn ở các quốc gia bên ngoài. Những khách hàng tiềm năng cảm thấy được bảo đảm hơn khi một doanh nghiệp có văn phòng chi nhánh ở quốc gia của họ.

      Việc đặt các văn phòng chi nhánh đòi hỏi các công ty phải hiểu biết rõ hơn về thị trường, văn hoá nơi hoạt động. Bởi vậy, một công ty mà mở một văn phòng chi nhánh ở nước ngoài phải thiết lập mối kinh doanh dài hạn hơn so với làm xuất khẩu hoặc chọn đại lý độc quyền hoặc quản lý bảo quyền những người biếp rất rõ thị trường. Bởi vậy, một số công ty chọn lựa các văn phòng chi nhánh và bản quyền, trong khi quản lý bản quyền cung cấp lối vào cộng đồng kinh doanh địa phương thì văn phòng chi nhánh duy trì sự kiểm soát của công ty đối với toàn bộ sự quản lý bản quyền của nó.

 e. Liên doanh.

      Là việc thiết lập một doanh nghiệp bằng cách liên kết bởi hai hoặc nhiều doanh nghiệp độc lập khác nhau. Chẳng hạn như liên doanh Fuji-Xerox được thành lập từ hai công ty Xerox và Fuji Photo. Việc thiết lập liên doanh là cách phổ biến để thâm nhập thị trường mới.

 * Ưu Điểm: 

* Nhược Điểm:

 Rủi ro trong việc kiểm soát công nghệ 

 f. Sở hữu hoàn toàn.

      Là một doanh nghiệp với sở hữu 100% cổ phần. Việc thiết lập công ty 100% vốn có thể được thực hiện bằng hai cách: doanh nghiệp có thể xây dựng một nhà máy mới hoặc có thể thôn tính doanh nghiệp đã có sẵn và sử dụng doanh nghiệp đó để khuyếch trương sản phẩm của nó tại thị trường đó.

 f1. Sở hữu hoàn toàn thông qua xây dựng mới.

 * Ưu điểm 

 * Nhược Điểm: 

 f2. Sở hữu hoàn toàn thông qua thôn tính.

 * Ưu điểm: 

* Nhược điểm: 

 2. Công ty quốc tế, công ty đa quốc gia.

 a. Công ty quốc tế.

      Cũng như những DN đạt được những thành công và thu được kinh nghiệm, các nhà xuất nhập khẩu có thể thường xuyên mở rộng (phát triển) mức độ thâm nhập quốc tế.

 “Công ty quốc tế là công ty hướng phần quan trọng kinh doanh của mình ở những quốc gia bên ngoài.”

      Các công ty quốc tế cũng ngày càng tăng dần điều kiện sản xuất dễ dàng hơn nước ngoài. Ví dụ, Kmart là một công ty quốc tế, hầu hết những cửa hàng bán lẻ là ở Mỹ, nhưng công ty cũng đã mở những cửa hàng ở Canada, ở Czech, Slovakia, Mexico. Bên cạnh đó công ty này cũng nhập khẩu những sản phẩm của các công ty ở những quốc gia khác. Mặc dù một công ty quốc tế có thể có những ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu nó vẫn duy trì phần quan trọng ở thị trường trong nước, chẳng hạn như Kmart vẫn thu được hơn 90% doanh thu từ việc bán sản phẩm ở thị trường Mỹ.

 b. Công ty đa quốc gia.

      Hiện nay trên thế giới có khoảng 38000 công ty đa quốc gia với 207000 chi nhánh trên toàn cầu, trong đó có hơn 90% là của các nước công nghiệp phát triển. Đầu tư của các công ty đa quốc gia chiếm khoảng 80% tổng vốn đầu tư vào các nước khu vực châu Á. Ở Việt Nam theo ước tính tỷ lệ đó vào khoảng 60-70%.

      Công ty đa quốc gia là công ty thiết kế, sản xuất và bán những sản phẩm ở nhiều quốc gia khác nhau.

      Theo định nghĩa của trường đại học Havard, công ty đa quốc gia có 5 đặc trưng: 

          Công ty mẹ thâu tóm được các cứ điểm kinh doanh ở nước ngoài bằng chiến lược kinh doanh thống nhất.

      Công ty mẹ và các cứ điểm kinh doanh ở nước ngoài cùng sử dụng các nguồn lực cho kinh doanh như: tiền vốn, kỹ thuật, nhân lực, mạng lưới tiêu thụ, nhãn hiệu hàng hoá -thông tin…

 Ví dụ: IBM, GMC, Ford, Coca-co la, Dupont.. của Mỹ.

 Mitsumitsi, Hitachi, Toshiba, Toyota Nhật.

 * Những ưu điểm của công ty đa quốc gia:

      Bên cạnh việc cung cấp. tạo ra các nguồn vốn lớn góp phần tăng trưởng kinh tế, MNCs có thể thúc đẩy tình hình và triển khai các dự án từ nguồn viện trợ phát triển (ODA), nguồn vay ưu đãi từ các tổ chức tài chánh quốc tế như: ADB, WB, IMF…

      Thị trường quốc tế: các công ty đa quốc gia có mạng lưới marketing quốc tế rộng lớn để bán sản phẩm tại thị trường chính quốc của công ty cũng như tại nhiều quốc gia khác.

      Chuyển giao công nghệ, triển khai dự án có kỹ thuật cao: Đa số các công ty đa quốc gia có công nghệ tiên tiến, họ có thể sẵn sàng chuyển giao những công nghệ đó cho nước chủ nhà, nếu các nhà kỹ nghệ địa phương có đủ khả năng sử dụng công nghệ sau khi được huấn luyện như: khai thác dầu khí, lọc dầu, điện lực, hoá chất, sản xuất ô tô, máy tính, thiết bị viễn thông..

      Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động: theo ước tính hiện nay số MNCs lớn chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng số công ty nước ngoài đang làm ăn tại việt nam, nhưng tạo ra 65-70% tổng số công ăn việc làm.

      Kích thích các doanh nghiệp địa phương: Sự có mặt của các công ty đa quốc gia kích thích các Doanh nghiệp địa phương tham gia mạnh mẽ vào việc cung cấp các loại nguyên liệu, các linh kiện và dịch vụ cho họ…góp phần tạo ra cơ hội và giao lưu văn hoá cho người dân địa phương.

      Tạo ra cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý quốc tế, tác phong làm việc cho các nhà quản lý và nhân viên địa phương. Các công ty đa quốc gia sẽ mang theo kinh nghiệm quản trị và cách thức điều hành hoạt động của một doanh nghiệp. Việc cử người đi làm việc ở nước ngoài sẽ rất tốn kém, do đó các công ty này thường huấn luyện người địa phương thành những nhà quản trị tại chỗ bổ sung vào đội ngũ cán bộ quản lý của họ.

      Thúc đẩy xuất khẩu, góp phần bù đắp thiếu hụt về ngoại tệ và tạo nguồn thu ngân sách.

 * Những bất lợi: 

 


📎 File đính kèm